KHƠI DÒNG

Có những câu chuyện tuy rất bình dị nhưng sẽ mãi là những câu chuyện kể. Có những việc làm dù nhỏ nhưng sẽ luôn đọng lại trong khối óc, con tim mọi người. Đó là những câu chuyện về những việc làm vì mọi người, vì quê hương, xứ sở. Những việc làm ấy có thể không lớn lao, không mấy ai để ý hay định hình đặt tên, song “mưa nhuồn thấm lâu”, nước nhỏ giọt lâu đầy chum vại chứa, vạn khe thành suối lớn, nghìn suối hợp thành sông và trăm sông hòa thành biển cả. Đó là quy luật muôn đời vẫn vậy! Câu chuyện mà tôi muốn chia sẻ dưới đây, tôi tự ví nó là một khe nước nhỏ trong trẻo, luôn miệt mài chảy trôi theo năm tháng, chứng kiến bao đổi thay của quê hương, của bản làng.

           Đến với chương trình kể chuyện về “Những tấm gương người tốt, việc tốt” hôm nay, tôi xin phép được chia sẻ với mọi người một câu chuyện bình dị, quen thuộc làm rung động biết bao trái tim hẹp hòi, ích kỉ đến những tấm lòng nhân ái, vị tha. Đó là một câu chuyện tuy rất giản đơn nhưng nó được thời gian in dấu, quê hương thẩm thấu và mọi người trong bản ghi lòng, tạc dạ: câu chuyện về một rừng cây, về suối nguồn, về việc làm và về cánh đồng xanh tốt hàng trăm năm nay.

          Bản tôi ở ngay sơn cước, có một cánh rừng già nguyên sinh u tịch, cùng dòng suối trong, trầm mặc suốt mấy đời người vẫn thế. Dòng suối đã được dân bản gọi với một cái tên trìu mến, thiêng liêng là “Bó He”, con nước đã tồn tại tự bao giờ không ai hay, “người già không nhớ nổi” chỉ biết nó có từ rất lâu như đất đá quê nhà. Con suối được tạo thành từ  vô vàn những vi mó nhỏ chảy trong khe đá ra, đùn dưới đất lên mà luôn đong đầy trào dâng, nó đã trở thành người mẹ với bầu sữa mát nuôi dưỡng biết bao mùa màng cây trái, đặc biệt là cánh đồng Nà He, Nà Hạ mà dân bản thường quen gọi là “thần hộ mệnh” lương thực, thực phẩm của bản mường. Hai cánh đồng bản tôi không chỉ giúp dân bản có gạo ăn mà ngày xưa còn góp một phần nhỏ lương thực cho kháng chiến chống Thực dân Pháp và đánh đuổi Đế quốc Mĩ xâm lược. Vậy, con nước đã trở thành niềm tin, niềm hi vọng và niềm tự hào của bản tôi. Nó đã đi vào câu ca, tiếng nhạc của tình yêu đôi lứa rất tình tứ, ngọt ngào:

“Chín sẽ quên, mười sẽ quên,

Hãy đợi suối He ngừng chuyển đôi dòng.

Ai buồn, ai nhớ, ai mong,

Đời người xa vắng suối dòng vẫn gieo.

Xa em người mãi trông theo,

Là tình ta đó đói nghèo vẫn thương…”

Ảnh một góc Bó he

 

          Ông cha ta từng dăn dạy con cháu đời sau: “Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”. Vậy, để trồng lúa thì nước tưới tiêu được xếp vào hàng đầu. Tuy nhiên với những cánh đồng bậc thang việc tưới tiêu không phải lúc nào cũng thuận lợi. Song đối với cánh đồng bản em suốt mấy chục năm qua nước vẫn chảy đều đặn, đầy đủ là nhờ ông Hoa mà mọi người hay gọi với cái tên gần  gũi “Lão Hoa mò cua” (do ông có điệu múa mò cua học được ở trong bộ đội về). Hàng năm đến đầu mùa cấy và lúa thời con gái đến làm đòng tạo hạt, ông luôn dành mỗi ngày khoảng 20 đến 30 phút thời gian buổi chiều tối của mình bất chấp thời tiết để khơi dòng, đắp mương cho nước về tưới cho hai cánh đồng của bản.  Công việc ấy đều được ông làm vào buổi chiều nhá nhem đến tối nên số người biết đến không nhiều, chỉ có người nhà, hàng xóm gần nhà biết và kể lại, thậm chí lấy gương ông mà giáo dục con cháu họ mỗi khi chúng lười nhác, hẹp hòi, tôi cũng chỉ may mắn biết được trong những buổi chiều hè ra suối tắm mát. Ông kể rằng: “ông là người nơi khác đến đây, quyết định lấy vợ và ở lại đây vì nơi đây không sợ đói, có rừng xanh, có suối chảy không bao giờ vơi cạn! Bản ta vốn là một bản nghèo, chỉ có cây lúa là cây quyết định sinh tồn của mỗi nhà, trong đó có cả nhà ông, hàng xóm, họ hàng của vợ ông. Nên việc bỏ chút thời gian để khơi dòng mương bản là việc nên làm, cần làm và phải làm thường xuyên. Ông cũng chẳng cần ai cảm ơn và biết đến, có người hỏi ông cũng không hay giải thích nhiều vì ông không thích ồn ào và việc chẳng đáng là bao…”

Ảnh ông Hoa Thâng – ông già tóc bạc bên phải (tết năm 2019)

Có lúc ngẫm lại câu chuyện giản đơn bình dị ấy, không ít người tò mò, cảm phục thậm chí còn cảm thấy xấu hổ. Bởi nếu biết sâu về cuộc đời của ông thì ông vốn là một người nghèo khổ, quê gốc Mường É, Thuận Châu, mồ côi - anh em li tán: ông thì đến Mường Piềng lấy vợ và ở lại, còn em trai thì di cư về Sông Mã. Ông là người bình dị, đời thường đã từng tham gia chiến tranh tám năm mà không thể nhớ tên tiểu đội, trung đội hay đại đội của mình “ông chỉ nhớ, ông nhỏ người nên được học nấu ăn và làm anh nuôi thôi”. Bởi ông chưa từng được đi học chữ. Giờ tuy đã ngoài chín mươi tuổi nhưng ông vẫn còn minh mẫn vẫn hay hỏi thăm em trai mình, thỉnh thoảng vẫn hay kể về quãng đời nghèo khổ của dân bản qua các thời kì chiến tranh, bao cấp…

Trở lại câu chuyện “khơi dòng” ấy, với mỗi ngày ông tranh thủ khoảng 20 phút đến 60 phút, với một mùa lúa 100 ngày thì nước tưới cần khoảng 60 ngày, với khoảng 40 năm thường xuyên làm công việc đó. Chúng ta có thể nhẩm tính, thời gian ông Hoa bỏ ra để “khơi dòng, sửa bờ mương” là rất lớn chỉ có thể quy về những việc tử tế, những tấm gương, mẫu mực về lòng ái dân, yêu bản làng. Sự cống hiến thầm lặng ấy cho đến khi ông không đi làm được nữa, ông lại dặn dò con cháu tiếp bước, nhưng điều đáng quý là ông chưa hề phàn nàn, kêu ca và cũng chưa hề nhận được một đồng tiền công nào, một lời cảm ơn nào từ dân bản ngoại trừ những người biết việc ông làm, họ cũng chỉ giữ ở trong lòng. Sự trao đi vì mùa màng, vì đại cuộc ấy, sự cống hiến thầm lặng ấy rất đáng được nể trọng và ghi nhớ công lao. Không chỉ có thế, ông cũng hay hô hào con cháu sửa đường, giúp đỡ nhau khi lũ lụt, mưa ngâu, mất mùa. Ông cũng là một trong số ít người thấy nước đọng ở đường là dùng que chọc thủng, dùng xẻng khơi thông để đường đỡ bẩn, vừa tiêu hao vi khuẩn và dịch bệnh. Tất cả với ông chỉ là tự nguyện, là vì cái chung của bản làng.

Ảnh cánh đồng Nà He vào buổi sáng

“Đà giang sóng sau xô sóng trước”, giờ ông đã già không hay đi ra đồng nữa thì Hội nông dân bản cũng ra đời và cách đây khoảng 5 năm trước bản tôi cũng đã được Nhà nước hỗ trợ xây cho hai con mương nên nước tưới tiêu gặp khá nhiều thuận lợi. Nhưng theo tôi, những việc làm rất ý nghĩa này sẽ mãi là câu chuyện kể hay về lối sống đẹp, sống hay và ý nghĩa. Đó cũng sẽ là những lời dăn vô giá, lời giáo dục nêu gương cho con cháu sau này về tinh thần vì dân, vì cộng đồng, vì quê hương . Rõ ràng trong trái tim người cựu chiến binh – anh nuôi già ấy đã thấm nhuồn lí tưởng ái dân, ái quốc của Bác, của các nhà cách mạng cha anh mà ông đã được trải nghiệm và hấp thụ từ trong quân ngũ. Và có lẽ những tinh thần cao đẹp ấy sẽ vẫn còn tiếp tục, định hình, phôi thai và ngày một lan tỏa trong thời đại mới.

Ảnh cánh đồng Nà Hạ khi chiều buông bên dòng Sông Đà

Có những bài ca luôn đi cùng năm tháng, có những lời kể như những lời ca trường cửu, vĩnh hằng. Có một lời kể như gợi nhắc công lao người đi trước. Công lao và tinh thần ấy của ông Hoa sẽ là một viên ngọc quý, sáng trong tượng trưng cho tấm gương soi về tấm lòng yêu bản mường, quê hương, xứ sở. Tấm lòng ấy, sẽ luôn là nguồn cảm hứng, nguồn cổ vuc, động viên to lớn, bất tận về tinh thần của lớp người đi trước đến với muôn đời con cháu.

Tác giả: Lò Văn Tâm

 

Bài tin liên quan
Chính phủ điện tử
Tin đọc nhiều
Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 1
Hôm qua : 19
Tháng 06 : 20
Năm 2020 : 2.078